Ngày 6.5, chỉ số giá chứng khoán trên sàn Hà Nội (HaSTC-Index) đã xuống còn 163,89 điểm, xuyên thủng đáy 166 điểm và ngày 9.5 chỉ còn 154,23 điểm. Ngày 9.5, chỉ số giá chứng khoán trên sàn TP.HCM (VN- Index) cũng chỉ còn 500,33 điểm, cách mức đáy ngày 25.3 có 3,69 điểm hay 0,74%, chỉ bằng trên một phần ba biên độ giao dịch cho một phiên (2%)!
Vậy, VN-Index liệu có phá đáy và đáy mới của VN-Index cũng như HaSTC- Index sẽ là bao nhiêu?
Trước hết, nhìn tổng quát, trong điều kiện lạm phát cao, khi chuyển sang ưu tiên kiềm chế lạm phát, thì thắt chặt tiền tệ sẽ là biện pháp đầu tiên, biện pháp quan trọng nhất để trị nguyên nhân quan trọng nhất của lạm phát là tiền tệ. Khi tiền tệ bị thắt chặt, thì không phải chỉ có cơ quan hoạch định chính sách vĩ mô là Ngân hàng Nhà nước, mà cả các ngân hàng thương mại cũng không thể nới lỏng việc cho vay, thậm chí còn thắt chặt hơn và còn hút bớt tiền về để phục vụ mục tiêu ưu tiên là kiềm chế lạm phát.
Nhiều người cho rằng lạm phát đã giảm, nhưng đó là đơn thuần nhìn vào tốc độ tăng giá của tháng 3 thấp hơn tháng 2, của tháng 4 thấp hơn tháng 3, nhưng vẫn là tăng lên (so với tháng 12.2007, nếu tháng 2 tăng 6,02%, thì tháng 3 đã tăng 9,19%, tháng 4 đã tăng 11,6%) và nếu năm trước tháng 3 giảm 0,22%, tháng 4 tăng 0,49%, thì năm nay tháng 3 tăng 2,99%, tháng 4 tăng 2,2%, cao gấp nhiều lần tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước. Đó là chưa kể sau tháng 6 này, nếu giá một số loại hàng hóa, dịch vụ (thời gian qua được kìm giữ lại) mà được điều chỉnh theo lộ trình giá thị trường, thì chính sách tiền tệ thắt chặt vẫn tiếp tục được thực hiện, chưa thể nới lỏng như một số đề xuất. Tiền tệ đã bị thắt chặt để kiềm chế lạm phát thì lượng tiền đầu tư vào chứng khoán sẽ không tăng lên được, do đó giá chứng khoán sẽ khó mà tăng lên.
Đi vào cung - cầu cụ thể, cũng có thể thấy tác động của các yếu tố theo chiều hướng khác nhau, nhưng cùng tác động làm cho giá chứng khoán chưa thể tăng lên được.
Về cung chứng khoán có ba yếu tố quyết định. Yếu tố thứ nhất là các nhà đầu tư. Phần đông các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nhỏ lẻ “chơi” chứng khoán không phải chủ yếu bằng vốn tự có mà chủ yếu bằng vốn đi vay, là thế chấp, cầm cố bằng chính chứng khoán mà mình “chơi”, nên mặc dù biết rằng “mua ở đáy, bán ở đỉnh” mới có lợi, nhưng nếu giá chứng khoán xuống thì đã sợ “lỗ” chồng lên “lãi vay”, nên đã bán tháo. Hiện tượng trong thời gian qua khi giá chứng khoán “đao” xuống thì gần như chỉ có bán mà chẳng có hoặc có rất ít người mua - mà người mua mới là người quyết định thị trường khi giá xuống - đã chứng tỏ nhận định trên.
Yếu tố thứ hai là các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán. Khi giá xuống dưới mức giá cầm cố theo hợp đồng, các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán có quyền và buộc phải giải chấp cổ phiếu đã cầm cố, làm tăng cung. Mặc dù thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại quốc doanh và vận động các ngân hàng thương mại cổ phần dừng giải chấp, nhưng ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp; các ngân hàng thương mại cổ phần lại không phải là đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, nên việc giải chấp vẫn diễn ra, sẽ làm tăng cung chứng khoán trên thị trường.
Yếu tố thứ ba là các công ty niêm yết - người biết rõ giá trị thực của cổ phiếu do đơn vị mình phát hành - cũng không tiếp tục mua vào (như mua làm cổ phiếu quỹ chẳng hạn), thậm chí có đơn vị còn phát hành thêm để tăng vốn (tranh thủ lúc giá còn cao do sợ giá sẽ giảm nữa). Một số công ty niêm yết sau khi quyết toán đã chia thưởng không phải bằng tiền mặt mà bằng cổ phiếu, làm cho giá cổ phiếu bị pha loãng - về thực chất cũng là tăng cung.
Về cầu chứng khoán, gần như không tăng mà đối với nhiều mã còn bị giảm, biểu hiện ở chỗ số nhà đầu tư mới gần như không có, hoặc nếu có thì cũng ít hơn số người rút khỏi thị trường. Những người đang đầu tư khi thấy thị trường giảm chưa có điểm dừng thì cũng chưa mua vào, thậm chí còn bán ra. Tỷ trọng giá trị mua chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài tăng lên hiện khá cao. Trong 100 phiên từ tháng 11.2007 đến tháng 3.2008, trung bình mua 1,22 triệu chứng khoán/phiên; trong 23 phiên từ đầu tháng 4 tới 8.5, trung bình mua 2,09 triệu chứng khoán/phiên. Bình quân trong thời gian từ tháng 11.2007 đến tháng 3.2008, tỷ trọng mua vào chỉ chiếm 10 - 20%, nhưng tháng 4 đến đầu tháng 5 đã chiếm 31,1% và thường mua ròng (tức là mua nhiều hơn bán). Mặc dù vậy, do nhà đầu tư trong nước bán tháo, nên giá chứng khoán cũng không tăng được. Hơn nữa, việc mua chứng khoán trong những phiên gần đây phần lớn đều tập trung vào một số mã, nên dù mua có tăng lên cũng khó có thể kéo chỉ số giá chung lên được.
Bên cạnh những yếu tố trực tiếp tác động đến cung - cầu chứng khoán trên thị trường, thì còn những yếu tố bên ngoài thị trường. Nhiều nhà đầu tư trông chờ, ỷ lại vào sự can thiệp của các cơ quan quản lý; trong khi một số nhà quản lý lại muốn “cứu” thị trường chứng khoán song lực bất tòng tâm,...
Dự đoán tuần tới giá chứng khoán sẽ không giảm liên tục như tuần trước, sẽ có những phiên tăng xen kẽ những phiên giảm, nhưng chiều hướng chung vẫn là giảm và VN-Index sẽ xuyên thủng đáy 496 điểm, thậm chí có thể xuống sâu hơn, còn HaSTC-Index sẽ xuống dưới 150 điểm.