|
| Ngày 6/5/2008, kỳ họp thứ 3, QH khoá XII đã khai mạc tại Hà Nội. | |
Trên đây là những con số được đưa ra trong Báo cáo thẩm tra quyết toán ngân sách nhà nước năm 2006 được Uỷ ban Ngân sách – Tài chính của Quốc hội đưa ra tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XII.
Theo đánh giá, năm 2006 tình hình kinh tế - xã hội của đất nước tiếp tục ổn định và phát triển, tăng trưởng kinh tế đạt ở mức 8,17%, cao hơn mức kế hoạch đề ra (8%); sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đều có mức tăng trưởng đáng khích lệ; công tác quản lý tài chính - ngân sách nhà nước được các Bộ, ngành trung ương, cấp uỷ, chính quyền các địa phương quan tâm, tập trung chỉ đạo, nhờ đó, nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước (NSNN) đạt nhiều kết quả tích cực.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nổi lên một số tồn tại trong quản lý, điều hành, quyết toán NSNN năm 2006:
Chất lượng xây dựng dự toán ngân sách một số địa phương còn hạn chế, chưa sát tình hình thực tế; ở một số địa phương còn có sự khác biệt khá lớn giữa dự toán ngân sách được cấp trên phân giao và dự toán ngân sách được HĐND quyết định.
Thu cân đối NSNN năm 2006 vượt dự toán lớn, vượt 17,5% (41.572 tỷ đồng). Một số chỉ tiêu thu tăng mạnh so với quyết toán năm 2005 nhưng tăng không cao so với dự toán. Tuy nhiên, qua kết quả giám sát và kết quả kiểm toán cho thấy dự toán thu ngân sách giao cho một số địa phương chưa sát thực tế. Một số tỉnh giao dự toán thu còn có độ chênh lớn so với số Trung ương phân giao, ngoài những nguyên nhân khách quan, còn có nguyên nhân chủ quan là các địa phương này vì lợi ích của địa phương đã bảo vệ dự toán thu thấp hơn nhiều so với thực tế nguồn thu phát sinh, nhằm tranh thủ nguồn trợ cấp của ngân sách cấp trên cho địa phương mình.
Có một thực trạng đang diễn ra là ngân sách cấp trên thâm hụt nhưng ngân sách cấp dưới lại bội thu, có kết dư hoặc chi chuyển nguồn lớn sang năm sau (năm 2005, NSTƯ thâm hụt 40.746 tỷ đồng; chênh lệch thu lớn hơn chi của NSĐP là 11.114 tỷ đồng; Năm 2006, NSTƯ thâm hụt 48.613 tỷ đồng; chênh lệch thu lớn hơn chi của NSĐP là 13.789 tỷ đồng).
Việc chấp hành các quy định về thu ngân sách ở một số địa phương, đơn vị chưa nghiêm, tình trạng trốn, lậu thuế với mức độ khác nhau diễn ra ở nhiều địa phương và đơn vị, số nợ đọng về thuế còn lớn, trong đó nhiều khoản nợ đọng kéo dài không còn khả năng thu nhưng chậm được xử lý. Số nợ đọng về thuế tuy có giảm nhưng còn lớn, chậm được xử lý (nợ thu nội địa 3.902 tỷ đồng, nợ thuế xuất nhập khẩu 3.170 tỷ đồng). Bên cạnh số nợ đọng về thuế, nhiều địa phương còn tạm thu, tạm giữ với số tiền lớn trên tài khoản tạm giữ, chờ xử lý tại Kho bạc Nhà nước, nhưng chậm được xử lý nộp NSNN (chỉ tính 12 đơn vị ở 29 địa phương được kiểm toán, số tạm thu chờ xử lý đã lên đến 2.156 tỷ đồng).
Cũng theo đánh giá của Quốc hội, trong điều kiện bội chi NSNN cao, số chi chuyển nguồn sang năm sau lớn làmảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả sử dụng nguồn NSNN. Ngoài số chi chuyển nguồn để thực hiện chế độ cải cách tiền lương và tinh giản biên chế theo Nghị quyết của Quốc hội (26.987 tỷ đồng) thì số chi chuyển nguồn từ năm 2006 sang năm 2007 vẫn còn lớn (50.621 tỷ đồng), trong đó một số bộ, ngành có số chi chuyển nguồn chiếm tỷ trọng khá cao và tăng hơn so với năm trước.
Trước những tình hình trên, Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đã có kiến nghị đối với Chính phủ cần tăng cường công tác xét duyệt quyết toán NSNN, kịp thời loại bỏ các khoản chi sai quy định ra khỏi quyết toán ngân sách, đồng thời kiểm tra, hướng dẫn chính quyền địa phương xem xét phê chuẩn quyết toán theo đúng quy định của Luật NSNN. Rà soát, phân loại các khoản nợ đọng về thuế, có các biện pháp xử lý dứt điểm các khoản nợ kéo dài không có khả năng thu hồi; thực hiện thu về cho NSNN những khoảnnợ đọng có thể thu được, chấn chỉnh công tác quản lý thu thuế theo Luật Quản lý thuế để khoản nợ về thuế giảm xuống ở mức thấp nhất.