|
| Giá gạo hiện vẫn ở mức cao | |
Thực tế, “cơn sốt” gạo giả tạo vừa diễn ra làm chúng ta tỉnh ra thêm nhiều điều. Thứ nhất, qua đó chứng tỏ đất nước ta không những không thiếu gạo mà còn dư thừa để tiếp tục đứng ở vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo.
Tuy nhiên, sự thiếu thốn ở một vài khu vực do lũ lụt, rét đậm rét hại và cuộc khủng hoảng giá của những hàng hóa chiến lược khác đã tạo nên hiệu ứng dây chuyền về giá cả và tâm lý, trở thành kẽ hở cho nạn đầu cơ gạo. Thứ hai, “cơn sốt” gạo cho thấy, nhiều năm gần đây chúng ta đã buông lỏng, thả nổi thị trường gạo trong nước cho tư thương, thiếu sự quản lý, tạo dự trữ đủ mạnh để Nhà nước cầm chịch cho sự ổn định giá cả, bảo đảm an ninh lương thực bền vững. Thứ ba, trong khi phải tạm ngừng xuất khẩu gạo, chúng ta rất cần xem lại tổng thể chiến lược sản xuất, chế biến, xuất khẩu gạo và nông sản để vừa bảo đảm tiêu dùng, dự trữ trong nước, vừa củng cố vững chắc thế mạnh xuất khẩu lúa gạo với giá trị thương mại ngày càng cao. Và cuối cùng, cần xem xét lại và hoạch định chiến lược mới về “tam nông” - nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tóm lại, có “mạnh vì gạo” mới có kinh tế, đời sống xã hội ổn định vững chắc, mới củng cố được nông nghiệp, một trong những trụ cột kinh tế, một thế mạnh hội nhập kinh tế của đất nước.
Xin nói thêm đôi điều để làm rõ những ý kiến trên. Như đã biết, năm 1939 Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng đầu khu vực Đông Nam Á, vậy nhưng chỉ 6 năm sau, Ất Dậu 1945, lại xảy ra nạn chết đói hàng triệu người ở miền Bắc. Tất nhiên, chính quyền thực dân Pháp cùng sự áp bức bóc lột triệt để của phát-xít Nhật không thể bảo đảm cho đất nước ta có “an ninh lương thực”; thêm nữa, khi tiến công quân phát-xít Nhật, máy bay của quân Mỹ “đồng minh” ném bom phá cầu và đường sắt xuyên Việt đã làm cản trở lớn đến sự cứu trợ lương thực từ phía nam ra phía bắc. Vậy là từ kho lương thực lớn của khu vực, vì chiến tranh, đất nước ta đã phải chịu nạn đói khủng khiếp chưa từng có.
Sau cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại hơn 30 năm, với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, nông nghiệp Việt Nam đã vươn dậy mạnh mẽ, góp phần đắc lực vào ổn định kinh tế - xã hội, tạo nên tiền đề căn bản để đất nước bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Song, những năm gần đây, chúng ta chưa chú trọng đúng mức đến phát triển nông nghiệp, tỷ trọng đầu tư trong nông nghiệp thấp, chất lượng lúa gạo và nông sản chưa được nâng lên, quyền lợi của nhiều bộ phận người nông dân không những chưa được đáp ứng mà còn có xu hướng bị kìm lại dưới đáy của vùng trũng phân cách giàu nghèo. Đây là điều thường xảy ra đối với những nước trong quá trình công nghiệp hóa. Tuy nhiên, là nước “đi sau”, chúng ta hoàn toàn có thể khắc phục được vũng lầy bi kịch này bằng một chiến lược mới về phát triển nông nghiệp, giải quyết căn bản từ đầu các vấn đề nảy sinh của xã hội nông thôn và nông dân. Đặc biệt, chúng ta có lợi thế từ một đất nước nông nghiệp và khả năng phát triển hơn nữa về nông nghiệp trong thời kỳ hiện nay.
Nhớ một thời, Hội đồng Tương trợ kinh tế thế giới (khối SEV) đã “phân công” Việt Nam tập trung phát triển nông nghiệp. Thuở ấy, sự hạn chế trong nhận thức, các điều kiện khách quan và chiến tranh đã làm cho chúng ta không những không thực hiện được kế hoạch “công nghiệp hóa” như mong ước mà còn không phát triển được nông nghiệp. Bây giờ, hội nhập quốc tế rộng và sâu hơn, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thế mạnh của chúng ta là gì? Phải chăng, trước hết vẫn phải tính đến nông nghiệp-sự ổn định kinh tế - xã hội do nông nghiệp phát triển vững chắc và khả năng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn từ lúa gạo, cà phê, hạt tiêu, điều, cá, tôm… cùng các sản phẩm hàng hóa tiểu thủ công nghiệp do nông dân làm ra.
Trải ngàn đời với vô vàn biến cố thiên tai, địch họa, người dân trồng lúa vùng Á Đông vẫn truyền nhau: “Dân coi cái ăn là trời”. Bây giờ ta không thiếu, không đói nhưng sự chủ động, căn cơ không bao giờ thừa. Hơn thế nữa, “hạt thóc vàng” đang trong tay ta, là báu vật của ta để nói chuyện làm ăn với bạn bè, đối tác.