Tác phẩm của các họa sĩ Việt Nam từ lâu đã là “sản phẩm chủ lực” tại các phiên đấu giá nghệ thuật hiện đại ở khu vực Đông Nam Á, nhưng hầu hết số đó đều là họa phẩm của thế hệ họa sĩ đầu tiên trưởng thành từ Trường Mỹ thuật Đông Dương, do người Pháp thành lập ở Hà Nội năm 1925. Rất ít tác phẩm nghệ thuật đương thời được chào bán tại các phiên đấu giá.
Tác phẩm của các họa sĩ “thời xưa” như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ và Nguyễn Gia Trí được nhiều người sưu tầm và giá của chúng những năm gần đây liên tục tăng. Thậm chí bức “Mẹ và con” của Lê Phố đã đạt kỷ lục thế giới đối với một họa sĩ Việt Nam khi có giá bán lên đến 364.469USD vào tháng 9 vừa qua, sánh ngang với mức giá đỉnh cao của các họa sĩ nổi tiếng Indonesia như Affandi. Tuy nhiên, hiện vẫn rất ít người quan tâm các tác phẩm đương đại và giá bán các tác phẩm của họ vẫn còn thua xa các tác phẩm của các họa sĩ đương thời ở Đông Nam Á.
Daniel Komala, giám đốc điều hành trung tâm đấu giá Larasati ở Jakata, cho biết “Mặc dù có tiềm năng lớn, nhưng Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm để bắt kịp nghệ thuật đương đại và vẫn đi sau Indonesia”.
Bà Ruoh-Ling Keong, chuyên gia ở Phòng tranh Đông Nam Á tại Christie’s Singapore, tin rằng thị trường về nghệ thuật Việt Nam đang ở “một giai đoạn phát triển khác”. Indonesia và Phillipines có lịch sử nghệ thuật lâu đời hơn và không có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam đang ở giai đoạn như hiện nay”.
Tuy nhiên, theo Daniel Komala, sự thiếu vắng các gương mặt họa sĩ trẻ tuổi đương đại trên thị trường sơ cấp và phòng tranh dường như cũng là yếu tố cản trở sự có mặt của họ tại các phiên đấu giá. Một yếu tố đáng kể là các phòng tranh không không sẵn lòng “lăng xê” các họa sĩ trẻ đương thời có tài. Thị trường ở Việt Nam vẫn chủ yếu phục vụ khách du lịch và nhiều phòng tranh đang làm ăn phát đạt ở lĩnh vực này. Nói tóm lại, các phòng trưng bày tranh chưa sẵn sàng mạo hiểm tham gia vào lĩnh vực mới.
Phiên giao dịch sắp tới của Sotheby ở Hồng Kông, ngày 8/4, sẽ chào bán 49 bức tranh của các họa sĩ Việt Nam - một số lượng chưa từng có các tác phẩm hội họa Việt Nam trong một ngày. Tuy nhiên, lại một lần nữa chỉ có 2 trong số đó là tác phẩm hội họa đương đại.
Mok Kim Chuan, phụ trách hội họa Đông Nam Á ở Sotheby, dự đoán họ sẽ thu được trên 11,6 triệu đôla Hồng Kông, và bức tranh có giá bán cao nhất là “Conversation d’élégantes au jardin”, của Vũ Cao Đàm vẽ năm 1939 với giá bán ước đạt 1-1,5 triệu đôla Hồng Kông (129.000-193.000USD).
Tác phẩm được săn lùng từ Việt Nam là những họa phẩm được vẽ trước hoặc trong thời gian thế chiến thứ 2. Những năm gần đây, một số trung tâm bán đấu giá chủ yếu chỉ chào bán một số ít tác phẩm hội họa của một nhóm tên tuổi đương đại đã được công nhận, kể cả Nguyễn Thanh Bình, Lí Thiết Cường và Lê Minh Đức.
Theo giám đốc nghệ thuật của Phòng tranh Ryllega ở Hà Nội, không gian trưng bày có tiếng của các tác phẩm đương đại, các họa sĩ trẻ thường chịu thiếu thốn về cơ sở hạ tầng. “Trình độ nghệ thuật đương đại vẫn thấp do chúng tôi thiếu các hệ thống hỗ trợ. Chúng tôi thiếu hoạt động đào tạo. Mặc dù chúng tôi có trường Đại học Mỹ Thuật Hà Nội, nhưng đến nay trường vẫn chỉ dạy những kỹ thuật và nguyên tắc như người Pháp giảng dạy trong những năm 1930. Thêm vào đó, chúng tôi cũng thiếu sự hộ trợ của các tổ chức nghệ thuật và thiếu đội ngũ quản lý và phê bình nghệ thuật chuyên nghiệp. Cả 2 đều quan trọng trong việc đưa ra định hướng cho các họa sĩ trẻ.”
Ngoài ra, theo ý kiến của nhiều người thì, các hoạ sĩ Việt Nam cũng cần học hỏi thêm, phải tiếp xúc nhiều hơn nữa với những gì đang xảy ra bên ngoài. Hiện mới chỉ có một số ít họa sĩ có cơ hội đi nước ngoài.
Mặc dù Việt Nam có nhiều họa sĩ trẻ, say mê nghệ thuật và có tài, nhưng họ thực sự chưa sẵn sàng. Những gì họ cần làm bây giờ là lúc đầu phải bán tranh của họ ở thị trường sơ cấp, sau đó khoảng 3 năm họ mới có thể sẵn sàng phục vụ thị trường thứ cấp…
Một điều khiến chúng ta bắt đầu phải suy nghĩ đó là: Sự yêu thích nghệ thuật đương đại Trung Hoa của giới sưu tập tranh bắt đầu giảm trong các phiên đấu giá gần đây, trong khi giá tác phẩm của các họa sĩ Indonesia năm qua tăng đáng kể. Và xu hướng này cũng mở ra tương lai tương sáng cho họa sĩ trẻ và nền hội họa đương đại Việt Nam.