- Con đường văn chương quả là nhọc nhằn nên tôi phải cố gắng hết mình, nhưng tôi cũng chả dại gì đánh đổi những buồn vui khác trong cuộc đời để chạy theo nó vì nó cũng chỉ là một trong những buồn vui quan trọng của tôi mà thôi. Con đường văn chương cũng quả là một đam mê. Tôi đam mê sống và đam mê suy nghĩ nhiều hơn lúc trẻ.
Cả hai đam mê này hiện nay đều có thể trưng dụng cho con chữ, nhưng những con chữ không dễ dàng đi vào trang giấy, mà cần phải nỗ lực bản lĩnh, phải lao tâm khổ trí. Tại sao như vậy? Tại vì những con chữ chúng không sợ chuyện gì, trong khi bản thân tôi lại sợ đủ chuyện. Tệ thật, nhưng phải đành vậy. Thế nên tôi suy tư nhiều. Không phải vì có nhiều thời gian mà những nghĩ suy cũng đến nhiều, mà chính là ngược lại. Thậm chí có thể nói vì không còn thời gian nên nghĩ suy mới đến nhiều. Những nghĩ suy của tôi đều chú tâm vào con người cùng thời bây giờ trong phạm vi tôi sống.
Năm 2007 tôi được giải nhất cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn VN. Hai truyện ngắn đoạt giải đều không có cốt truyện, chúng chỉ là những lát cắt mang nhiều suy tư và thám hiểm cuộc sống nóng hổi.
Giải thưởng văn học dứt khoát không phải một cuộc xổ số, thế nên không có chuyện may mắn. Do đó tôi trân trọng và vui mừng. Nó đã tạo cho tôi tự tin hơn trong công việc sáng tác văn học. Hóa ra trong sáng tạo chẳng có bí quyết hoặc qui luật gương mẫu nào buộc phải tuân theo. Hóa ra cũng chẳng có đề tài hay hoặc đề tài dở. Vấn đề là mình có đào sâu đến tận cùng sự chân thành của suy nghĩ và hành động khi xử lý nó hay không. Tôi để ý thấy một việc giống như qui luật nhưng không phải qui luật, đó là lúc đầu tiên làm văn chương phần nhiều ai cũng khoái làm thơ. Mà ngay cả những người không làm văn chương, hễ có dịp làm văn chương họ cũng thích làm thơ.
Do đó, như số đông, ban đầu tôi cũng đến với thơ. Nhưng sau khi bán bò in tập thơ Bếp lửa chiều đông mang hơi hướng một tập văn đủ thể loại, tôi biết mình đã bị nàng thơ cắm sừng. Thế là tôi bỏ thơ. Nói "bỏ thơ” là nói cho sang, thật ra thơ bỏ tôi, nhưng nó bỏ tôi thì tôi dại gì mà không bỏ nó.Vậy là xoay sang viết văn xuôi, trong đó có hai truyện ngắn Buổi sáng biến mất và Cơm chiều được giải thưởng. Việc này không có gì là bất ngờ cả. Có bất ngờ chăng là bất ngờ đúng y như mình đã ngờ. Chúng ta vẫn luôn ở nơi chúng ta muốn đến đó thôi.
Ngoài truyện ngắn, tôi thường viết tản văn chứa đựng những hạnh phúc giản đơn của tôi. Những hạnh phúc cho dù giản đơn thì cũng không có chân, có giả. Nếu giả hạnh phúc, hẳn nhiên đó không phải hạnh phúc. Còn đó là chân hạnh phúc thì cũng không phải là hạnh phúc nốt nữa rồi. Hạnh phúc ở đây là vật kỳ lạ, khi ta biết nó thì nó đã mất rồi. Khi ta được nó lại chẳng biết nó có mặt ở đấy. Hạnh phúc không chỉ là "đàn ông đi chợ chiều" mà còn nhiều thứ khác nữa trong đời một nông dân. "Đàn ông đi chợ chiều" chỉ là cái vảy của hạnh phúc, nhưng vẫn là một hạnh phúc chính cống. Việc này cũng giống như con sò chỉ là cái vảy của đại dương, nhưng nó tắm trong đại dương và rì rào đại dương. Ở trong chuyện này lại có một điều kỳ lạ nữa, đó là ước muốn có được hạnh phúc lại cản trở hạnh phúc.
Tôi vẫn cặm cụi, vẫn nghĩ ngợi, vẫn suy tư về những điều mà mọi người thường ít chú tâm. Đó là bản tính tôi, một tật không dễ gì bỏ được.Từ khi có nhiều người biết đến tên tôi, cuộc sống tôi vẫn vậy, chỉ khác một vài điều chẳng nhằm nhò gì, ví như khi ở phố tôi được bạn bè rủ đi nhậu nhiều hơn, ví như khi ở quê tôi được người ta chỉ tay, xầm xì: "Đấy, cái ông giải thưởng đấy. Nom hình xác như ma đói!". Nhưng cũng vui, vì làm văn chương mà không ai biết đến tên mình đấy mới là điều đáng buồn. Làm văn chương chi? Nói gì thì nói, nói trời nói đất gì thì nói, tầng sâu thẳm của người làm văn chương chính là lòng háo danh.
Đến với văn chương không hẳn là tình cờ, vì trong người tôi đã có "máu văn chương" chạy rần rật, nhưng tôi không quyết tâm theo đuổi nó đến tận cùng làm gì. Văn chương cũng như đàn bà, dại mà theo đuổi mãi, nó trốn mất! Tốt nhất đối với tôi là viết được cái gì thì viết nhưng phải viết rốt ráo, viết hết mình. Có người bảo tôi đã ngồi trong chiếu văn. Làm gì được chuyện ấy. Tôi không bao giờ ảo tưởng như thế.
Muốn ngồi trong chiếu văn, tôi phải cố gắng nhiều hơn và tiếp tục nhiều hơn nữa. Hiện giờ tôi tự biết mình đang đứng sát mép chiếu văn, có thể bước vào rồi lại tự do bước ra, rồi lại có thể bước vào nhưng chưa đủ sức nặng để ngồi xuống. Nếu ngu khờ tưởng bở, cứ ngồi ào xuống, người ta cũng rinh ra.
Việc này nói ra có nên không? Nói chứ, nói sai đúng gì cũng được, vì đấy là của riêng tôi. Tôi thường luyện tôi như sau: mỗi tuần phải đọc kỹ mươi trang sách của các tác giả mình đã coi là bậc thầy. Khi đọc phải có tờ giấy trắng bên cạnh, để vẽ sơ đồ biến chuyển suy tư của họ. Sau đó, bỏ sách và coi sơ đồ. Có sơ đồ toàn những đường đứt khúc, nhảy vọt. Có sơ đồ lại tiệm tiến, liền lạc. Có sơ đồ toàn những quay tròn, xoắn xít như tóc rối... Và như thế tôi nắm được kiểu suy nghĩ đặc sản của họ ngay.
Tôi cũng vẽ cả sơ đồ hành động nữa. Những sơ đồ này xem có ngược hay thuận chiều với sơ đồ suy nghĩ, và như thế sẽ vọt ra ánh sáng riêng của các bậc thầy. Tôi lại cũng hay rong chơi, giao tiếp với những người không làm văn học để mình làm được văn học tốt hơn. Và trên hết, tôi phải suy nghĩ và phán đoán... Ôi, những việc này làm sao nói rõ ràng cho được!
Tôi vẫn thường đọc sách của các bạn viết trẻ, tôi rất trân trọng và quí mến họ. Hiện giờ họ giống như mới chứ không phải là mới. Họ lại giống can đảm chứ chưa phải là can đảm... Nhưng trong tương lai gần, tôi tin họ có thể mới thật và can đảm thật. Bởi vì họ là lớp đang trẻ.
Như đã nói ở trên, đối với tôi, văn chương là việc thám hiểm con người và cuộc sống bằng ngôn ngữ. Đó là cuộc thám hiểm hấp dẫn, đòi hỏi trí tuệ, tài năng và kinh nghiệm sống. Trong việc thám hiểm này, tôi nhận thấy con người cùng cuộc sống thường trực bị lung lạc bởi đồng tiền, tham vọng và bạo lực. Bên cạnh cái "thiện" hiếm hoi, cái "ác" lại đầy rẫy, và cái "ác" ấy chỉ sợ cái "ác hơn". Và đó là một chân lý cay đắng phải đắng cay.