"Chúng ta chưa có một lý thuyết đúng về giáo dục (GD), và hoạt động GD của chúng ta chưa được bắt đầu bằng một lý thuyết". Giáo sư-Tiến sĩ (GSTS) Hồ Ngọc Đại đã khẳng định như thế trong nhiều dịp.
Không chỉ GSTS Hồ Ngọc Đại mà không ít những nhà nghiên cứu GD đã nhận rằng GD của chúng ta được bắt đầu từ những kinh nghiệm (cá nhân và tập thể: vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm nâng lên thành lý thuyết) vì thế nên chỉ có thể sai đâu sửa đấy và có khi càng sửa càng sai.
Một cuốn sách mới cho ta hiểu hơn về một lý thuyết GD
Một gia đình có người đi học, thì cả nhà quan tâm xem xét tìm hiểu đến sự học đó.
Tôi tự đặt câu hỏi tại sao học sinh - sinh viên của ta thời nay (thời mọi thứ cần cho việc học đều rất sẵn) thì hiệu quả học tập lại rất kém? Đi tìm lời giải, tôi hiểu rằng sự học và dạy học được bắt đầu sai. Người dạy không lấy người học làm trung tâm, người dạy cốt dạy (nói) cho xong cái giáo án đã soạn, bất chấp người học có muốn nghe và làm thế nào để nghe được cái bài học đó. Làm thế nào để biết về người học là câu hỏi thứ hai và tôi tìm thấy trong cuốn sách mới của Phạm Toàn: "Hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục" (NXB Tri thức, 4.2008).
Rất đáng chú ý là quan điểm của tác giả đối với khái niệm lý thuyết.
Tác giả không mặn mà lắm với quan điểm coi lý thuyết như một sự "tổng kết kinh nghiệm" ("Tổng kết đầy đủ kinh nghiệm của một triệu cái đèn dầu hẳn không thể tìm ra lý thuyết cho một cái đèn điện"). Tác giả cho rằng tổng kết kinh nghiệm chỉ là công việc lấy quá khứ làm thước đo, trong khi cuộc sống bao giờ cũng cuồn cuộn trôi về phía trước.
Quan điểm của tác giả đối với lý thuyết gói trong một hướng đi và một cách làm được thiết kế kỹ lưỡng để trở thành một lộ trình và trên con đường thực thi lộ trình ấy còn thường xuyên được điều chỉnh theo sự năng động của cuộc sống.
Và tôi thấy lộ trình đó được tác giả giới thiệu là một đường lối dạy học (và GD) đã từng được thực thi ở Việt Nam trong ba mươi năm qua hệ thống Công nghệ giáo dục.
Con đường hợp lưu tất yếu
Tác giả chứng minh qua lịch sử nghiên cứu tâm lý học và tâm lý học giáo dục để thấy con đường hợp lưu tất yếu sẽ là khoa tâm lý học, nền tảng của Công nghệ giáo dục.
Tác giả không viết lịch sử tâm lý học giáo dục, mà chỉ dùng những cột mốc quan trọng trong sự phát triển của khoa học đó để chỉ ra sự đi tới tất yếu (chốn "hợp lưu") Công nghệ giáo dục.
Những cột mốc của dòng chảy đó đã vào Việt Nam thông qua những nhà cách tân đầu tiên Hồ Ngọc Đại và Nguyễn Kế Hào, Hà Vĩ, Đặng Ngọc Diệp... đã tổ chức ra cả một thực thể giáo dục có thật ở Việt Nam.
Sở dĩ sách của Phạm Toàn dùng được từ hợp lưu vì quả thực Công nghệ giáo dục ở Việt Nam đã thành những mảnh ruộng thí nghiệm làm sáng tỏ một lý thuyết giáo dục mới vừa thừa kế vừa nâng cao và mở rộng mọi thành tựu tâm lý học dạy học, để đưa vào trong hướng đi và cách làm có thể trao được vào tay từng giáo viên.
Phần diễn giải về những cột mốc đại thụ tâm lý học giáo dục thế giới dĩ nhiên là rất thú vị, đầy gợi ý và đầy sức thuyết phục cũng là những chương viết về lý thuyết và thực thi các môn khoa học, các môn nghệ thuật và tổ chức cuộc sống đạo đức cho trẻ em ở nhà trường phổ thông.
Những đứa trẻ - sản phẩm của một hệ thống giáo dục phổ thông thực sự đổi mới - sẽ thành "nguyên liệu đầu vào" đáng tin cậy cho các trường dạy nghề (cao đẳng và đại học). Sẽ là hoang tưởng và vô trách nhiệm nếu từ một nền giáo dục phổ thông rệu rã song lại lớn tiếng hô hào phải có và phải có ngay những trường đại học đẳng cấp quốc tế!
Muốn cải cách nền giáo dục phổ thông, điều cần yếu nhất không phải là tiền bạc hoặc những "dự án" này khác. Điều cần yếu sống chết đảm bảo thành công hoặc dẫn đến thất bại nằm trong sự hiểu biết về đứa trẻ nhỏ. Muốn hiểu rõ đứa trẻ nhỏ, không thể thoát khỏi tâm lý học giáo dục. Nhà giáo dục không thể không biết rõ thế hệ trẻ VN - nhân vật chính của cuộc sống tương lai - muốn gì và phải bắt đầu như thế nào.
Hình như đó là thông điệp của tác giả "Hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục".
Một vấn đề lý thú như vậy nếu chỉ nằm trong cuốn sách với những người đọc ngoại lệ (không phải là nhà giáo) như tôi thì thật đáng tiếc. Tôi chân thành giới thiệu nó với đông đảo xa gần những ai hy vọng canh tân giáo dục. Cũng có thể từ đây nhận về một phản biện để tác giả, những đồng nghiên cứu và những phụ huynh học sinh như tôi được yên tâm hơn về con đường đã chọn của giáo dục nước nhà.